HOTLINE:

0862 618 918

EMAIL:

dandatflex@gmail.com, sale@dandat.com.vn

Tin tức

Khớp giãn nở bản lề ( phần 4 )

Ngày đăng: 12-09-2026 08:39:58 Lượt xem: 3

Khớp giãn nở bản lề

Phần 4: Một số sai lầm thường gặp khi lựa chọn khớp giãn nở bản lề

 

Khớp giãn nở bản lề chỉ làm việc đúng chức năng khi dạng chuyển vị của hệ thống, mặt phẳng quay, hướng trục bản lề, vị trí điểm cố định và gối đỡ dẫn hướng, cũng như cách bố trí các khớp được xác định phù hợp ngay từ giai đoạn thiết kế hệ thống đường ống.

Cơ cấu bản lề cho phép hai đầu khớp quay tương đối quanh trục chốt bản lề, đồng thời khống chế chuyển vị dọc trục tương đối giữa hai đầu khớp và truyền lực đẩy do áp suất qua kết cấu bản lề.

Vì vậy, lựa chọn hoặc bố trí sai khớp giãn nở bản lề không chỉ có thể làm giảm tuổi thọ của ống sóng kim loại (bellows), mà còn có thể làm tăng tải lên đường ống, điểm cố định, gối đỡ và các đầu nối của thiết bị.

1. Sai lầm 1: Dùng Khớp giãn nở bản lề để hấp thụ chuyển vị dọc trục

Khớp giãn nở bản lề được thiết kế để cho phép chuyển vị góc quanh trục bản lề; chuyển vị dọc trục không phải là chuyển động thiết kế được phép của khớp. Cơ cấu bản lề liên kết hai đầu khớp và khống chế chuyển vị dọc trục tương đối giữa chúng, vì vậy bellows không được tự do kéo dài hoặc nén theo trục như ở khớp giãn nở dọc trục.

Nếu sự giãn nở nhiệt của tuyến ống tạo ra chuyển vị dọc trục ΔL tại vị trí khớp nhưng lại sử dụng khớp giãn nở bản lề để hấp thụ trực tiếp chuyển vị này, chuyển động dọc trục sẽ bị cơ cấu bản lề khống chế. Khi đó, tải do giãn nở nhiệt có thể truyền sang các bộ phận khác của hệ thống như:

  • Điểm cố định và gối đỡ;
  • Đường ống và các mối nối;
  • Đầu nối của thiết bị;
  • Cơ cấu bản lề của khớp;
  • Các kết cấu liên quan của hệ thống.

Do đó, khi sử dụng khớp giãn nở bản lề, hình học tuyến ống và cách bố trí các khớp phải được thiết kế sao cho chuyển vị do giãn nở nhiệt của hệ thống được chuyển thành chuyển động quay tại các khớp bản lề.

Nguyên tắc lựa chọn:

  • Nếu yêu cầu là hấp thụ trực tiếp chuyển vị dọc trục tại chính vị trí khớp, không sử dụng khớp giãn nở bản lề như một khớp dọc trục.
  • Khớp giãn nở bản lề phù hợp khi hình học hệ thống cho phép chuyển vị của đường ống được hấp thụ thông qua chuyển động quay của một hệ hai hoặc nhiều khớp bản lề trong cùng mặt phẳng.
    – Việc lựa chọn phải dựa trên kết quả phân tích chuyển vị và độ mềm của toàn hệ thống đường ống.

2. Sai lầm 2: Dùng một khớp giãn nở bản lề đơn lẻ để hấp thụ chuyển vị lớn của hệ thống

Trong các hệ thống bố trí hai hoặc ba khớp bản lề, các khớp phối hợp với đoạn ống trung gian để biến chuyển vị của tuyến ống thành chuyển động quay tại từng khớp. Nhờ đó, hệ thống có thể hấp thụ chuyển vị tổng thể lớn hơn mà không yêu cầu một bellows đơn lẻ phải chịu toàn bộ biến dạng.

Hình 1. Minh họa nguyên lý phối hợp hai khớp giãn nở bản lề để tạo chuyển động góc trong hệ thống đường ống

Lưu ý: Hình chỉ minh họa nguyên lý chuyển động. Vị trí điểm cố định, gối đỡ và chiều dài đoạn ống giữa hai khớp phải được xác định bằng phân tích hệ thống đường ống cho từng ứng dụng cụ thể.

Sai lầm thường gặp là chỉ kiểm tra góc quay cho phép của một khớp riêng lẻ mà không phân tích chuyển động của toàn hệ thống. Khi đó, góc quay thực tế tại khớp có thể vượt quá giá trị thiết kế, làm tăng ứng suất trong bellows và giảm tuổi thọ mỏi.

3. Sai lầm 3: Không xác định đúng mặt phẳng chuyển vị

Khớp giãn nở bản lề có một trục quay được xác định bởi trục chung của các chốt bản lề; do đó khớp chỉ cho phép chuyển động quay tương đối quanh trục này, tương ứng với chuyển vị góc trong một mặt phẳng xác định.

Nếu chuyển vị của hệ thống có các thành phần theo nhiều phương và không thể quy về chuyển động trong một mặt phẳng xác định, một hệ thống khớp giãn nở bản lề chỉ được bố trí để làm việc trong cùng một mặt phẳng có thể không đáp ứng được chuyển động thực tế. Khi đó, khớp có thể phải chịu chuyển vị ngoài mặt phẳng hoặc các tải cưỡng bức mà cơ cấu bản lề và bellows không được thiết kế để hấp thụ.

Khi hệ thống yêu cầu chuyển vị góc quanh hai trục độc lập hoặc chuyển động góc trong nhiều mặt phẳng, cần xem xét sử dụng khớp giãn nở kiểu Cardan (Gimbal), có khả năng cho phép chuyển động góc quanh hai trục quay.

Ví dụ: kết quả phân tích hệ thống cho thấy tại vùng bố trí khớp có hai thành phần chuyển vị:

  • ΔY = 40 mm
  • ΔZ = 25 mm.

Không thể chỉ sử dụng một thành phần ΔY để lựa chọn và định hướng khớp bản lề. Cần xác định chuyển động tương đối giữa các đầu khớp, mặt phẳng quay yêu cầu và góc quay của từng khớp trong toàn hệ thống.

Nếu chuyển động yêu cầu không thể được bố trí trong một mặt phẳng, cần xem xét cấu hình Cardan (Gimbal) hoặc giải pháp bố trí khác.

4. Sai lầm 4: Chọn khớp dựa vào đường kính (DN) và áp suất nhưng bỏ qua góc quay

Một khớp giãn nở bản lề không thể lựa chọn chỉ bằng:

  • Đường kính danh nghĩa (DN)
  • Áp suất thiết kế (P)
  • Nhiệt độ thiết kế (T)

Một trong những thông số quyết định đối với khớp giãn nở bản lề là góc quay yêu cầu của khớp.

Hình 2. Nguyên lý biến dạng của ống sóng kim loại (Bellows) khi khớp chịu chuyển vị góc

Khi hai đầu khớp quay tương đối, các nếp sóng ở hai phía của bellows chịu mức biến dạng khác nhau. Khi góc quay yêu cầu tăng, biên độ biến dạng của bellows tăng, làm tăng ứng suất chu kỳ và ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ mỏi của khớp.

Khi lựa chọn khớp giãn nở bản lề cần xác định tối thiểu:

  • Đường kính danh nghĩa và kích thước kết nối;
  • Áp suất thiết kế và các trường hợp áp suất cần xét;
  • Nhiệt độ thiết kế và nhiệt độ vận hành;
  • Góc quay yêu cầu của khớp;
  • Số chu kỳ làm việc yêu cầu;
  • Vật liệu bellows và các bộ phận chịu áp;
  • Lưu chất và yêu cầu chống ăn mòn;
  • Chiều dài lắp đặt;
  • Tải tác dụng lên cơ cấu bản lề;
  • Điều kiện dòng chảy và yêu cầu sử dụng ống lót dẫn dòng, nếu cần;
  • Các tải ngoài và điều kiện lắp đặt liên quan.

Không nên lựa chọn khớp chỉ vì catalogue công bố góc quay cho phép bằng đúng góc quay tính toán của hệ thống. Góc quay cho phép phải được kiểm tra đồng thời với áp suất, nhiệt độ, vật liệu, số chu kỳ yêu cầu, điều kiện lắp đặt và các trường hợp tải thiết kế.

5. Sai lầm 5: Bỏ qua “lực đẩy áp suất” khi thiết kế cơ cấu bản lề

Một đặc điểm quan trọng của khớp giãn nở bản lề là cơ cấu bản lề liên kết hai đầu khớp, khống chế chuyển vị dọc trục tương đối giữa chúng và truyền lực đẩy do áp suất qua thanh bản lề, chốt bản lề và các chi tiết liên kết. Nhờ đó, lực đẩy do áp suất được cơ cấu bản lề tiếp nhận và truyền giữa hai đầu khớp, thay vì làm hai đầu khớp tự do tách xa nhau theo phương trục

Công thức tính lực đẩy áp suất:

                                                        Fp ​= P × Ae​

Trong đó:

  • Fp​: lực đẩy do áp suất;
  • P: áp suất chênh tác dụng lên bellows tại trường hợp tải đang xét;
  • Ae​: diện tích hữu hiệu của bellows.

Lực đẩy này có thể đạt giá trị rất lớn khi áp suất hoặc diện tích hữu hiệu của bellows tăng. Vì vậy cơ cấu bản lề và các liên kết của nó phải được thiết kế để truyền tải này an toàn.

Vì vậy, thanh bản lề, chốt bản lề, bản tăng cứng và mối hàn không phải chi tiết phụ. Chúng là kết cấu chịu lực chính.

Nếu chỉ tính bellows theo áp suất mà không kiểm tra tải của cơ cấu bản lề, có thể xuất hiện:

  • Chốt bản lề bị quá tải cắt hoặc phá hỏng do cắt;
  • Thanh bản lề bị kéo hoặc mất ổn định;
  • Bản tăng cứng biến dạng;
  • Mối hàn bị nứt;
  • Sai lệch trục quay.

Với đường kính lớn và áp suất cao, lực này có thể rất đáng kể. Do đó, việc thiết kế khớp bản lề không được dừng ở kiểm tra bellows; phải kiểm tra đồng thời thanh bản lề, chốt, bản tăng cứng, mối hàn và các bộ phận truyền lực liên quan đối với các trường hợp tải thiết kế.

6. Sai lầm 6: Chọn khớp giãn nở bản lề trong khi hệ thống thực tế cần nhiều loại chuyển vị đồng thời

Một tuyến ống thực tế có thể đồng thời phát sinh:

  • Chuyển vị dọc trục (Axial);
  • Chuyển vị ngang (Lateral);
  • Chuyển vị góc (Angular).

Không được lựa chọn loại khớp chỉ dựa trên tên gọi của các thành phần chuyển vị của tuyến ống.

Cần phân tích cách các chuyển vị tổng thể của hệ thống được chuyển thành chuyển động tương đối tại từng khớp.

Một khớp bản lề đơn chỉ cho phép chuyển động góc theo bậc tự do thiết kế của nó, nhưng một hệ nhiều khớp bản lề có thể phối hợp để hấp thụ chuyển vị tổng thể của đường ống.

Ví dụ, nếu kết quả phân tích đường ống cho thấy hệ thống đồng thời có các thành phần chuyển vị như:

  • Chuyển vị dọc trục,
  • Chuyển vị ngang và
  • Chuyển vị góc,…

Mặc dù có có các giá trị chuyển vị này, nhưng vẫn chưa thể kết luận loại khớp cần sử dụng.

Cần xét hình học tuyến ống, vị trí khớp, điểm cố định, gối đỡ, hướng chuyển vị và bậc tự do cần thiết tại từng vị trí. Từ đó mới lựa chọn loại khớp giãn nở theo cấu hình bản lề, đa năng, đa năng có thanh giằng hoặc hệ kết hợp phù hợp.

7. Sai lầm 7: Dùng khớp giãn nở để sửa sai số chế tạo hoặc sai lệch lắp đặt

  • Khớp giãn nở không được sử dụng như một phương tiện để cưỡng bức căn chỉnh đường ống hoặc bù cho sai số chế tạo, lắp đặt vượt quá giới hạn cho phép khi:
  • Hai mặt bích lệch tâm;
  • Đường ống chế tạo sai chiều dài;
  • Đầu nối của thiết bị và đường ống bị sai lệch vị trí hoặc phương;
  • Đường ống bị ép cưỡng bức khi lắp.
  • Nếu khớp bị sử dụng để cưỡng bức căn chỉnh hệ thống, bellows có thể bị nén, kéo, lệch ngang hoặc quay trước khi hệ thống đi vào vận hành. Biến dạng lắp đặt này phải được tính vào tổng chuyển vị và trạng thái ứng suất của bellows; nếu không được dự kiến trong thiết kế, khả năng chuyển vị và tuổi thọ mỏi khả dụng của khớp có thể bị giảm.
  • Không được nhầm sai lệch lắp đặt ngoài thiết kế với việc đặt trước khớp ở trạng thái nguội. Việc đặt trước này là một chuyển vị có chủ đích, được xác định bằng tính toán và quy định trong thiết kế nhằm đưa khớp về vị trí ban đầu phù hợp trước khi hệ thống vận hành.

8. Sai lầm 8: Không kiểm soát xoắn bellows và hướng trục bản lề

Ống sóng kim loại không được xem là phần tử dùng để hấp thụ chuyển vị xoắn quanh trục dọc của khớp. Tải xoắn có thể làm tăng ứng suất trong thành bellows, giảm tuổi thọ mỏi và trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến hư hỏng khớp.

Đối với khớp giãn nở bản lề, vấn đề này đặc biệt quan trọng vì cơ cấu bản lề chỉ cho phép khớp thực hiện chuyển vị góc trong một mặt phẳng xác định.

Trục của các chốt bản lề phải trùng với trục quay thiết kế của khớp. Mặt phẳng chuyển động góc của hai đầu khớp vuông góc với trục quay này.

Nếu khớp bị lắp xoay sai phương quanh trục đường ống, chuyển động thực tế của hệ thống có thể không còn tương thích với bậc tự do của cơ cấu bản lề. Khi đường ống giãn nở nhiệt, khớp sẽ bị cưỡng bức chịu các tải và mô-men ngoài thiết kế; trong một số trường hợp, thành phần xoắn có thể truyền vào bellows.

Bellows có thành rất mỏng và các nếp sóng tạo ra những vùng nhạy cảm với ứng suất. Tải xoắn có thể tạo thêm ứng suất cắt và làm tăng ứng suất cục bộ tại chân hoặc đỉnh nếp sóng. Khi tải này lặp lại theo các chu kỳ vận hành:

Tải xoắn ngoài thiết kế → tăng ứng suất trong bellows → giảm tuổi thọ mỏi → hình thành vết nứt → rò rỉ → có thể dẫn đến hư hỏng khớp.

Do đó, khi thiết kế và lắp đặt khớp giãn nở bản lề cần kiểm soát đồng thời:

  • Hướng trục chốt bản lề so với mặt phẳng chuyển vị yêu cầu.
  • Hướng lắp đặt thực tế của khớp so với bản vẽ đường ống.
  • Mô-men xoắn do đường ống, thiết bị hoặc sai lệch lắp đặt truyền tới khớp.
  • Khả năng xuất hiện chuyển vị ngoài mặt phẳng mà khớp giãn nở bản lề không được thiết kế để hấp thụ.

Nguyên tắc quan trọng: Khớp giãn nở bản lề phải được lắp sao cho trục chốt bản lề trùng với trục quay đã xác định trong thiết kế hệ thống đường ống. Không được sử dụng bellows để hấp thụ tải hoặc chuyển vị xoắn ngoài thiết kế.

9. Sai lầm 9: Không kiểm tra điều kiện vận hành thực tế

Một khớp được lựa chọn đúng về chuyển vị vẫn có thể hư hỏng nếu không xem xét đầy đủ:

  • Áp suất thiết kế;
  • Nhiệt độ thiết kế;
  • Các chế độ vận hành;
  • Số chu kỳ yêu cầu;
  • Vật liệu bellows và khả năng tương thích với lưu chất;
  • Khả năng chống ăn mòn của vật liệu và yêu cầu bảo vệ chống ăn mòn theo môi trường làm việc
  • Vận tốc và đặc tính dòng chảy;
  • Rung động;
  • Yêu cầu sử dụng ống lót dẫn dòng;
  • Tải trọng ngoài;
  • Điều kiện thử áp;
  • Điều kiện lắp đặt;
  • Tổ hợp tải bất thường nếu có;
  • Yêu cầu về tiêu chuẩn áp dụng.

10. Các mục cần kiểm tra trước khi lựa chọn khớp giãn nở bản lề

11. Kết luận

Một trong những sai lầm cơ bản khi lựa chọn khớp giãn nở bản lề là xem cơ cấu bản lề chỉ như một bộ phận phụ gắn thêm vào khớp giãn nở. Trên thực tế, cơ cấu bản lề là bộ phận quyết định bậc tự do chuyển động và đường truyền lực của khớp: cho phép chuyển động góc quanh trục bản lề, khống chế chuyển vị dọc trục tương đối giữa hai đầu khớp và truyền lực đẩy do áp suất.

Trình tự cơ bản khi lựa chọn và thiết kế hệ thống sử dụng khớp giãn nở bản lề:

  • Bước 1: Xác định chuyển vị nhiệt và các chuyển vị khác của hệ thống đường ống.
  • Bước 2: Xác định hướng chuyển vị, mặt phẳng chuyển động và bậc tự do cần thiết tại từng vị trí.
  • Bước 3: Xác định loại, số lượng, vị trí và hướng lắp của các khớp phù hợp với hình học hệ thống.
  • Bước 4: Tính chuyển động và góc quay yêu cầu tại từng khớp cho các trường hợp tải thiết kế.
  • Bước 5: Kiểm tra áp suất, nhiệt độ, góc quay, tuổi thọ mỏi, lực đẩy do áp suất và các tải tác dụng lên bellows, cơ cấu bản lề, điểm cố định, gối đỡ và thiết bị liên quan.
  • Bước 6: Hoàn thiện thông số kỹ thuật của khớp và kiểm tra sự phù hợp của thiết kế với Code/tiêu chuẩn áp dụng trước khi chế tạo.

Trình tự trên giúp bảo đảm khớp giãn nở bản lề làm việc đúng bậc tự do thiết kế, các tải được truyền theo đường truyền lực dự kiến và hệ thống đáp ứng yêu cầu về độ bền, độ mềm và tuổi thọ thiết kế.

12. Cơ sở tiêu chuẩn và tài liệu kỹ thuật

Việc lựa chọn, thiết kế, chế tạo và bố trí khớp giãn nở bản lề phải được thực hiện phù hợp với Code/tiêu chuẩn áp dụng của hệ thống. Các tài liệu thường được tham chiếu gồm:

EJMA Standards, Version 11 – tài liệu chuyên ngành về thiết kế, lựa chọn và ứng dụng khớp giãn nở ống sóng kim loại.

EN 14917 – Metal bellows expansion joints for pressure applications – áp dụng cho khớp giãn nở ống sóng kim loại sử dụng trong các ứng dụng chịu áp thuộc phạm vi tiêu chuẩn.

ASME B31.3 – Process Piping – áp dụng đối với hệ thống đường ống công nghệ thuộc phạm vi của Code; việc sử dụng khớp giãn nở phải được phối hợp với thiết kế độ mềm, tải trọng, gối đỡ và các yêu cầu của toàn hệ thống đường ống.

Ngoài các tài liệu trên, cần áp dụng Code/tiêu chuẩn của dự án, yêu cầu kỹ thuật của chủ đầu tư và các tiêu chuẩn liên quan đến vật liệu, hàn, kiểm tra và thử nghiệm.

13. Tư vấn kỹ thuật

Nếu bạn đang:

  • Thiết kế hệ thống đường ống
  • Gặp vấn đề rung, nứt, rò rỉ
  • Cần chọn đúng loại khớp giãn nở

► Dân Đạt – ISO 9001:2015 sẵn sàng hỗ trợ:

  • Tư vấn kỹ thuật miễn phí; Thiết kế theo yêu cầu
  • Sản xuất đa dạng chủng loại;
  • Giao hàng đúng theo thời gian hợp đồng.

 Hotline: 0862.618.918

► Email: dandatflex@gmail.com                      

► Website: https://dandat.com.vn

 

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email
Danh mục sản phẩm
Hỗ trợ trực tuyến
account_circle Điện thoại: 0862 618 918
account_circle Email : dandatflex@gmail.com, sale@dandat.com.vn
Videos

Đối tác

zalo